Nhận định thị trường Quý 2 năm 2008
Các chỉ số kinh tế cơ bản
Thị trường tài chính vào Quý 2 khá biến động và lạm phát là một trong những nhân tố chính tác động đến diễn biến thị trường. Chỉ số lạm phát hàng tháng từ tháng Tư đến tháng Sáu lần lượt là 2,2% 3,91% và 2,14%. Điều này đã khiến cho chỉ số lạm phát năm tính đến thời này lên đến 18,4%, vượt xa mục tiêu ban đầu của Chính Phủ là kiềm chế lạm phát ở mức thấp hơn tăng trưởng GDP. Nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến tình hình này là do sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế trong thời gian qua; nguồn vốn thu hút đầu tư tăng mạnh nhưng khả năng hấp thụ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn chưa tốt. Nguyên nhân là tăng trưởng chậm của hạ tầng cơ sở và các yếu tố sản xuất khác. Điều này cũng sẽ dẫn đến việc chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa tăng lên nhanh chóng.
Để khắc phục những vấn đề trên, chính phủ tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, bao gồm việc tăng lãi suất. Ngân hàng nhà nước đã hai lần gia tăng tỷ lệ lãi suất cơ bản, từ 8,75% lên 12%, và lên đến 14%. Cùng thời điểm này, mức trần lãi suất tiền gửi được thay thế bằng mức trần lãi suất cho vay được Ngân Hàng Nhà Nước giám sát chặt chẽ, đặc biệt là thời điểm cuối Quý. Chính vì lạm phát cao, các ngân hàng đã và đang gặp nhiều khó khăn trong việc huy động tiền gửi và gây nên nhiều khó khăn về thanh khoản cho các tổ chức tài chính khác. Quyết định của Ngân Hàng Nhà Nước đã phần nào giảm bớt những quan ngại về thanh khoản. Ngoài ra, Chính Phủ cũng dự định cắt giảm chi tiêu và chỉ tập trung vào những khoản chi thật sự cần thiết. Chính sách kiểm soát giá cả vẫn được duy trì và chỉ điều chỉnh giá điện và xăng dầu khi thực sự cần thiết. Việc này là nhằm mục đích cân bằng giữa nguy cơ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát. Đến cuối tháng Sáu, lạm phát đã bắt đầu bình ổn. Chúng tôi hy vọng rằng lãi suất sẽ vẫn duy trì ở mức như hiện nay. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã giảm nhẹ từ 7,4% xuống còn 6,5%, nhưng vẫn là mức cao nhất so với hầu hết các nước khác trong khu vực.
Thâm hụt mậu dịch ngày càng lớn là một vấn đề đáng quan tâm khác. Các loại hàng hóa nhập khẩu nhiều nhất bao gồm máy móc thiết bị phụ tùng, xăng dầu và sắt thép. Máy móc thiết bị nhập khẩu gia tăng mạnh do nhu cầu đầu tư phục vụ sản xuất kết hợp với chính sách giảm thuế nhập khẩu hiện hành. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của hai loại hàng hóa còn lại tăng là do giá cả mặt hàng này tăng trên thị trường thế giới.Điều này thật sự đáng lo ngại vì nhu cầu về USD sẽ cao hơn nguồn cung và điều đó có thể dẫn đến việc mất giá của VND. Để khắc phục vấn đề trên, Chính phủ đã và đang thực hiện một số biện pháp như tăng thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa xa xỉ. Cũng đã có một số cuộc thảo luận về việc cắt giảm thuế hay các biện pháp khác để hỗ trợ các đơn vị xuất khẩu.
Trong thực tế, tiền đồng đã giảm 4,55% giá trị trong Quý vừa qua. Bất chấp áp lực như vậy, Chính phủ cho biết có thể vẫn duy trì chính sách giảm giá đồng tiền có kiểm soát thay vì chính sách thả nổi đồng tiền. Đến cuối tháng Sáu, tỷ giá VND/USD là 16.842 đồng/USD, so với 16.110 đồng/USD tại thời điểm cuối Quý I.
Diễn biến ngắn hạn trên thị trường bắt đầu được cải thiện. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thận trọng về triển vọng trong giai đoạn trung hạn của nền kinh tế. Các yếu tố có tính chất toàn cầu vẫn chưa có dấu hiệu chuyển biến tích cực tác động đến tình hình lạm phát trong nước. Tuy vậy, tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam xét về dài hạn vẫn còn được nhìn nhận và do đó, vẫn còn nhiều cơ hội tốt để đầu tư vào thị trường trong nước.
Trái phiếu và Thị trường Tiền tệ
Thị trường trái phiếu khá biến động trong Quý II và những lo ngại về lạm phát đã đẩy lãi suất trái phiếu kỳ hạn 5 năm từ 8-9% vào tháng Ba lên đến hơn 20% vào cuối tháng Năm. Tuy nhiên, bước sang tháng Sáu, thị trường trái phiếu có dấu hiệu cải thiện mặc dù lãi suất trái phiếu vẫn còn cao. Lãi suất trái phiếu kỳ hạn 5 năm bắt đầu giảm từ 20% xuống còn 18% vào cuối tháng Sáu. Thanh khoản trên thị trường trái phiếu đã được cải thiện và một số ngân hàng trong nước đã bắt đầu mua vào trái phiếu ngắn hạn. Động thái này cũng là do các ngân hàng bị ảnh hưởng bởi hạn chế tăng trưởng tín dụng ở mức 30% do Ngân hàng Nhà nước quy định và ngân hàng phải tìm kiếm một công cụ đầu tư thay thế khác.Lãi suất trái phiếu hiện tại rất hấp dẫn, đặc biệt là khi chúng ta so sánh với những quốc gia khác có cùng điều kiện kinh tế vĩ mô và định mức tín nhiệm như Indonesia và Philippines. Xét về dài hạn, người ta cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài có thể bắt đầu nhìn nhận trái phiếu của Việt Nam là công cụ đầu tư hấp dẫn và góp phần thúc đẩy thị trường này phát triển mạnh hơn.
Trong khi đó, do ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Trung ương, lãi suất tiền gửi đã tăng lên đáng kể ở cả các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Vào cuối Quý II này, lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 1 tháng bình quân là khoảng 15-16% tại các ngân hàng nước ngoài. Với tình hình lạm phát còn có thể tiếp diễn trong giai đoạn trung hạn, rất có thể Ngân hàng Trung ương sẽ tiếp tục giữ tỷ lệ lãi suất như hiện nay và đó có thể là điều kiện thị trường thuận lợi cho các công cụ thị trường tiền tệ.
Tình hình thị trường chứng khoán - Q2/2008
Thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục xu thế sụt giảm trong hầu hết thời gian của Q2/2008, trước khi có dấu hiệu hồi phục vào cuối Tháng 06/2008.
VnIndex mất 121,59 điểm (hay –23,33%) so với mức giảm 481 điểm (hay -48.2%) trong Q1/2008. Sàn Hà Nội cũng trong cùng xu thế đó, giảm 71,36 điểm (hay –38,60%) so với mức giảm 141 điểm (hay –43,89%) trong Q1/2008. Các yếu tố kinh tế vĩ mô là những nhân tố tác động chính: Chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng cao (18,4% tính đến thời điểm hiện tại), thâm hụt thương mại lên đến 14,74 tỷ USD, nên cần thiết phải duy trì việc thắt chặt chính sách tiền tệ. Dự báo tăng trưởng GDP trong cả năm 2008 cũng đã được hạ xuống mức 6,5% so với trước đây là 8.5%.
Trong vòng 3 tháng qua, mức vốn hóa toàn thị trường chứng khoán Việt Nam lại giảm thêm 4,75 tỷ USD nữa từ 14,05 tỷ USD xuống còn 9,3 tỷ USD (giảm –33,76%).
Thanh khoản gặp khó khăn trong Quý II này ngay cả khi có sự điều chỉnh biên độ giao dịch tại cả hai sàn Hà Nội (HASTC) và TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Chính phủ đã quyết định thu hẹp biên độ giao dịch từ 5% xuống 1% tại sàn HOSE và từ 10% xuống còn 2% tại sàn HASTC vào ngày 25/03/2008. Một tuần sau, họ lại điều chỉnh tăng trở lại mức 2% và 3% tương ứng tại HOSE và HASTC vào ngày 03/04/2008 sau khi nhận thấy giá trị giao dịch sụt giảm đáng kể. Kế đến, vào ngày 19/06/2008, biên độ giao dịch lại được nâng lên một lần nữa trở lại mức 3% tại HOSE và 4% tại HASTC. Tính thanh khoản bắt đầu được cải thiện.
Cũng dễ dàng nhận thấy những nỗ lực tăng cường tính minh bạch và niềm tin vào thị trường chứng khoán. Trong Quý II này, các quan chức thuộc Bộ Tài Chính và Ngân Hàng Nhà Nước (SBV) đã tổ chức một buổi hội thảo quốc tế có sự tham dự của các Nhà đầu tư để cung cấp cho họ những thông tin cập nhật về tình hình kinh tế hiện tại trong nỗ lực khôi phục niềm tin của họ vào tiềm năng kinh tế của Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên Chính phủ công bố một cách chính thức các thuyết trình và tài liệu về số liệu kinh tế vĩ mô ra công chúng.