Kiến thức cơ bản về quỹ đầu tư tương hỗ (Mutual Fund)

Chúng ta có thể nhận thấy rằng Quỹ tương hỗ đã và đang trở thành một công cụ đầu tư rất phổ biến trong khoản 20 năm qua. Một công cụ tài chính vốn rất mơ hồ, khó hiểu trước kia nay đã trở thành một phần trong cuộc sống của chúng ta. Trên 80 triệu người hay một nửa số hộ dân Mỹ đang đầu tư vào các Quỹ tương hỗ. Điều này có nghĩa là, chỉ tính riêng ở nước Mỹ, hàng ngàn tỷ Đô La được đầu tư vào Quỹ tương hỗ.

Trong thực tế, đối với rất nhiều người, đầu tư nghĩa là mua chứng chỉ quỹ đầu tư. Có một nhận thức khá phổ biến là đầu tư vào quỹ tương hỗ thì (hay chí ít cũng có thể) mang lại hiệu quả hơn là để lãng phí tiền đầu tư trong các tài khoản tiết kiệm. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều người khác vẫn chưa thực sự hiểu rõ khi đầu tư vào Quỹ. Các nhân viên tư vấn bán hàng sẽ chẳng giúp ích gì được nhiều nếu họ sử dụng thuật ngữ chuyên môn khó hiểu chen vào khi tư vấn cho khách hàng.

Lúc khởi đầu, quỹ tương hỗ được tiên báo là một phương cách để những nhà đầu tư nhỏ lẻ tham gia một mảng thị trường nhỏ. Thay vì chôn vùi hết thời gian rảnh rỗi của mình vào các trang thông tin tài chính của Wall Street Journal, thì bạn chỉ cần mua chứng chỉ quỹ cũng là một cách đạt được tự do về tài chính. Có thể bạn cũng đoán được rằng, mọi việc cũng không quá dễ dàng như vậy. Quỹ tương hỗ là một ý tưởng đầu tư tuyệt vời về mặt lý thuyết, nhưng trong thực tế, không phải tất cả những thuận lợi khi đầu tư thông qua quỹ đều đạt được. Không phải tất cả các quỹ lập ra đều có sự ngang bằng về chi phí và cơ hội đầu tư và đầu tư vào quỹ thực sự không dễ dàng như việc vung ném tiền của mình ngay cho người nhân viên bán hàng đầu tiên tư vấn cho bạn về quỹ mà không có sự cân nhắc.
Định nghĩa

Một quỹ tương hỗ đơn thuần là một tập hợp các khoản đầu tư vào cổ phiếu và/hoặc trái phiếu. Bạn có thể hiểu như sau: quỹ đầu tư tương hỗ là do một công ty tập hợp một nhóm người và tiến hành đầu tư tiền vốn của họ vào cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác. Mỗi Nhà đầu tư sở hữu số cổ phần đại diện cho tỷ lệ nắm giữ của họ trong quỹ đó.

Bạn có thể thu được lợi nhuận từ một quỹ đầu tư theo 03 cách như sau:

1.Thu nhập từ cổ tức được chia từ cổ phiếu và từ lãi suất trái phiếu. Quỹ thường chi trả gần như toàn bộ các khoản thu nhập mà quỹ nhận được trong năm cho Nhà đầu tư dưới hình thức phân chia cổ tức quỹ.
2.Nếu quỹ bán đi chứng khoán đã tăng giá, quỹ sẽ có lãi vốn (capital gain). Hầu hết các quỹ cũng chia lại khoản lãi vốn này cho Nhà đầu tư.
3.Nếu các chứng khoán mà quỹ còn nắm giữ tăng giá và Công ty quản lý quỹ quyết định không bán ra, giá chứng chỉ quỹ trên thị trường sẽ tăng lên. Khi đó, Nhà đầu tư có thể bán chứng chỉ quỹ để kiếm lời.


Các quỹ đầu tư cũng thường cho phép nhà đầu tư lựa chọn nhận cổ tức quỹ bằng tiền (check) hay tái đầu tư mua thêm cổ phần (chứng chỉ) quỹ.

Những thuận lợi khi đầu tư thông qua quỹđầu tư tương hỗ:

Quản lý đầu tư chuyên nghiệp - lợi thế lớn nhất của quỹ (ít nhất là trên lý thuyết) là sự quản lý chuyên nghiệp vốn đầu tư của bạn. Nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ bởi vì họ không có nhiều thời gian cũng như kinh nghiệm chuyên môn để quản lý danh mục đầu tư của riêng mình. Quỹ đầu tư là một phương cách tương đối không qua đắt đỏ đối với các nhà đầu tư nhỏ nếu muốn có được một nhà quản lý dành toàn thời gian để thực hiện và quản lý danh mục đầu tư cho mình.

Đa dạng hóa - bằng việc sở hữu cổ phần quỹ thay vì đầu tư vào các cổ phiếu và trái phiếu riêng lẻ, rủi ro đầu tư của bạn sẽ được dàn trải ra. Lợi ích mà việc đa dạng hóa danh mục đầu tư có thể mang lại là khi đầu tư vào nhiều loại tài sản khác nhau, sự thua lỗ do khoản đầu tư này gây ra sẽ được giảm thiểu nhờ lãi tức các khoản đầu tư khác mang lại. Nói cách khác, càng có nhiều cổ phiếu và trái phiếu trong danh mục đầu tư của mình, càng ít nguy cơ bị một chứng khoán nào đó gây thiệt hại cho bạn. các quỹ tương hỗ lớn thường đầu tư vào hàng trăm loại cổ phiếu khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Một nhà đầu tư với số vốn hạn chế không thể xây dựng được một danh mục đầu tư đa dạng hóa như vậy.

Lợi thế mua/bán số nhiều – vì rằng quỹ tương hỗ thường mỗi lần mua và bán chứng khoán với số lượng lớn, nên chi phí giao dịch thường thấp hơn mức mà nhà đầu tư cá nhân phải trả cho các giao dịch chứng khoán.

Tính thanh khoản – cũng giống như các loại chứng khoán khác, quỹ cũng cho phép bạn bán chứng chỉ quỹ để thu vốn về bất kỳ lúc nào.

Đơn giản – mua (cổ phần) chứng chỉ quỹ rất dễ dàng! Gần như tất cả các ngân hàng đều có lập một số quỹ đầu tư tương hỗ và quy định mức đầu tư tối thiểu thông qua quỹ không quá lớn. Hầu hết các công ty quản lý quỹ cũng đưa ra các chương trình đăng ký mua tự động cho phép các khoản thu nhập nhỏ đến mức 100 đô la Mỹ có thể tham gia đầu tư hàng tháng.

Các loại quỹ đầu tư tương hỗ:

Có một điều hết sức quan trọng cần nhớ là mỗi quỹ khác nhau sẽ có các mức độ rủi ro đầu tư và lợi nhuận khác nhau. Tổng quát, lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro thua lỗ cũng cao tương ứng. Mặc dù một số quỹ có mức độ rủi ro thấp hơn quỹ khác, tất cả quỹ đều có một mức độ rủi ro đầu tư nhất định. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm loại trừ mọi rủi ro là điều không thể. Mọi khoản đầu tư đều có rủi ro.

Mỗi quỹ đầu tư đều xác định trước mục tiêu đầu tư của mình và dựa trên đó để xác định các chiến lược đầu tư, lĩnh vực và phân bổ tài sản đầu tư phù hợp. Cơ bản nhất, có thể chia quỹ tuơng hỗ ra làm 03 loại:

Quỹ đầu tư cổ phiếu.
Quỹ đầu tư vào chứng khoán có thu nhập cố định (trái phiếu)
Quỹ đầu tư vào các công cụ huy động vốn ngắn hạn.

Tất cả các quỹ tương hỗ đều là những loại biến thể kết hợp từ 03 loại tài sản đầu tư này. Chẳng hạn, quỹ đầu tư cổ phiếu đầu tư vào các công ty có mức độ tăng trưởng nhanh được gọi là quỹ tăng trưởng; quỹ đầu tư cổ phiếu chỉ đầu tư vào các công ty trong cùng ngành hay khu vực được gọi là quỹ đầu tư chuyên biệt.

Hãy cùng điểm qua các loại quỹ tương hỗ khác nhau. Chúng ta sẽ bắt đầu với loại quỹ có mức độ đầu tư an toàn nhất, sau đó đến các quỹ có mức độ rủi ro đầu tư cao hơn.

1) Quỹ đầu tư vào các công cụ huy động vốn ngắn hạn
Thị trường huy động vốn ngắn hạn bao gồm các công cụ nợ ngắn hạn, phần lớn là tín phiếu kho bạc (T-bills). Đây là một nơi gửi tiền an toàn. Bạn sẽ không được hưởng lãi cao, nhưng cũng chẳng phải quá lo lắng sẽ bị mất vốn. Thường thì bạn sẽ được hưởng mức lãi cao gấp đôi mức bạn có thể nhận nếu gửi tiền trong tài khoản thanh toán/tiết kiệm định kỳ và thấp hơn một chút so với mức lãi bình quân của Chứng chỉ tiền gửi (CDs).

2) Quỹ đầu tư trái phiếu/chứng khoán có thu nhập cố định
Quỹ đầu tư chứng khoán có thu nhập cố định đúng với tên của nó: mục tiêu của quỹ này là đem đến cho nhà đầu tư một khoản thu nhập ổn định và thường xuyên. Nếu nói về quỹ tương hỗ, các thuật ngữ như “Thu nhập cố định”, “trái phiếu” hay “thu nhập” là đồng nghĩa. Các từ này cho biết rằng quỹ này sẽ ưu tiên đầu tư vào các công cụ nợ chính phủ và công ty. Trong khi danh mục chứng khoán mà quỹ nắm giữ có thể gia tăng giá trị, thì mục tiêu chính của các quỹ này vẫn là mang lại cho Nhà đầu tư một chuỗi thu nhập cố định. Chính vì vậy, quỹ này sẽ thu hút sự quan tâm của những nhà đầu tư thận trọng và các cô/bác hưu trí.

Quỹ đầu tư trái phiếu có thể trả cổ tức cao hơn lãi chứng chỉ tiền gửi và công cụ đầu tư thị trường vốn ngắn hạn. Tuy nhiên, quỹ này không phải không có rủi ro. Vì có rất nhiều loại trái phiếu khác nhau nên quỹ đầu tư trái phiếu cũng rất khác biệt tùy thuộc quỹ đó đầu tư vào loại trái phiếu nào. Chẳng hạn, một quỹ chuyên đầu tư vào trái phiếu có độ rủi ro và thu nhập cao thì rủi ro sẽ cao hơn nhiều so với quỹ đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Hơn nữa, hầu như tất cả các quỹ đầu tư trái phiếu đều có thể gặp rủi ro về lãi suất, nghĩa là nếu lãi suất tăng giá chứng chỉ quỹ này sẽ giảm.

3) Quỹ cân bằng
Mục tiêu đầu tư của Quỹ này là mang lại cho nhà đầu tư một khoản thu nhập đảm bảo cân bằng giữa cả khoản cổ tức cố định và sự gia tăng giá trị (chứng chỉ) quỹ. Chiến lược đầu tư của quỹ cần bằng là đầu tư vào danh mục bao gồm cả trái phiếu và cổ phiếu. Một quỹ cân bằng điển hình có tỷ lệ phân bổ danh mục đầu tư như sau: 60% vào cổ phiếu và 40% vào trái phiếu và các công cụ nợ khác. Cũng thường có các quy định về mức tối thiểu và tối đa cho các tỷ lệ phân bổ đầu tư vào các tài sản nêu trên.

Một quỹ có tính chất tương tự là quỹ phân bổ tài sản đầu tư, và do vậy có cùng mục tiêu đầu tư. Tuy nhiên, các quỹ loại này không bắt buộc phải duy trì một mức cụ thể tỷ lệ đầu tư vào một loại tài sản nào đó. Công ty quản lý quỹ, do đó, được tự do quyết định điều chỉnh tỷ lệ phân bổ tài sản đầu tư tùy vào từng giai đoạn thay đổi của chu kỳ kinh tế và kinh doanh.

4) Quỹ đầu tư vào cổ phiếu
Quỹ đầu tư vào cổ phiếu chiếm đa số trong các phân loại quỹ tương hỗ. Nhìn chung, mục tiêu đầu tư của loại quỹ này là tăng trưởng vốn trong dài hạn với một khoản thu nhập cố định nhỏ. Tuy nhiên, trên thị trường có rất nhiều loại cổ phiếu nên cũng có nhiều loại quỹ đầu tư cổ phiếu khác nhau. Có một cách để dễ dàng nhận biết các dạng khác nhau của quỹ đầu tư cổ phiếu là sử dụng hộp style box, như ví dụ bên dưới.

Cách thức ở đây là phân loại quỹ dựa trên cả hai yếu tố quy mô của các công ty mà quỹ đầu tư vào và phong cách đầu tư của công ty quản lý quỹ. Thuật ngữ “value - giá trị” muốn nói đến một phong cách theo đó tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các công ty có chất lượng cao nhưng không còn được ưa chuộng trên thị trường. Các công ty này thường có hệ số P/E và hệ số giá trên giá trị sổ sách thấp và tỷ lệ trả cổ tức cao. Ngược lại với loại quỹ “giá trị” là quỹ “growth - tăng trưởng”, áp dụng chiến lực đầu tư vào các công ty có (và kỳ vọng là sẽ tiếp tục duy trì được) tốc độ tăng trưởng cao về lợi nhuận, doanh thu và luồng lưu kim. Một loại quỹ kết hợp giữa hai loại “giá trị” và “tăng trưởng” nêu trên là loại quỹ hỗn hợp (blend), chuyên đầu tư vào cổ phiếu của các công ty không được phân loại vào 02 nhóm trên.

Ví dụ, một quỹ đầu tư vào các công ty có mức vốn hóa thị trường lớn và khả năng tài chính mạnh nhưng gần đây giá cổ phiếu của họ giảm có thể được xếp vào nhóm “large và value”. Ngược lại với ví dụ này là quỹ đầu tư vào các công ty công nghệ mới thành lập với triển vọng tăng trưởng rất lớn. Quỹ như vậy có thể được phân loại là “small and growth”.

5) Quỹ đầu tư quốc tế/toàn cầu
Quỹ đầu tư quốc tế chỉ đầu tư bên ngoài quốc gia bản xứ. Quỹ toàn cầu đầu tư vào bất kỳ nơi nào trên thế giới, bao gồm cả quốc gia bản xứ.

thật khó có thể kết luận là các quỹ loại này có mức độ rủi ro đầu tư cao hơn hơn hay an toàn hơn các quỹ đầu tư trong nước. Chúng không ổn định và chứa đựng những rủi ro về chính trị, hay tập tục của từng quốc gia. Tuy nhiên, cũng là một bộ phận thuộc danh mục đầu tư cân bằng, quỹ này trong thực tế cũng có thể giảm được rủi ro nhà vào sự đa dạng hóa danh mục đầu tư. Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới ngày càng có sự liên hệ mật thiết với nhau hơn, nhưng có vẻ như là ở một nơi nào đó vẫn có một quốc gia khác có hoạt động kinh tế hiệu quả hơn quốc gia bản địa.

6) Quỹ chuyên biệt
Cách phân loại quỹ này bao gồm các quỹ rất phổ biến nhưng không nhất thiết thuộc vào các phân loại quỹ mà chúng ta vừa nêu trên. Loại quỹ tương hỗ này không áp dụng danh mục đầu tư đa dạng hóa quá rộng mà tập trung vào một phân khúc cụ thể trong nền kinh tế.

Một số quỹ loại này bao gồm quỹ đầu tư theo ngành, quỹ đầu tư (theo) khu vực.

7) Quỹ đầu tư chỉ số
Quỹ đầu tư chỉ số đơn thuần chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động của thị trường và mang lại lợi ích cho nhà đầu tư dưới hình thức phí thấp

Khởi lập ...

Vào tháng 6 năm 2005, Manulife vinh dự được cấp giấy phép thành lập Công ty TNHH Quản lý Quỹ Manulife Việt Nam (MVFM)

Thăm dò ý kiến

Vấn đề nào sau đây mà Quý vị quan tâm nhất và mong muốn được nghe trình bày tại Đại hội Nhà đầu tư thường niên của Quỹ




Bình chọn 
Số lượt truy cập:  79425
Số người trực tuyến: 17