Ba quyết định và những tác động lớn về chính sách tài chính tiền tệ

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm cạn kiệt nguồn tín dụng quốc tế và suy giảm kinh tế toàn cầu. Nhiều quốc gia châu Á đã "quay về" kích thích thị trường nội địa để duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức khiêm tốn. Tuy nhiên, các quốc gia này đều gặp trở ngại là lạm phát khá cao. Việt Nam cũng đang thận trọng, kiên nhẫn vượt qua khó khăn theo cách này và có lẽ đây là bước đi đầu tiên theo hướng đó. Website NHNN trích đăng phỏng vấn TS. Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng, nhân động thái NHNN đưa ra các quyết định về việc giữ nguyên lãi suất cơ bản; tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc; và cho phép cầm cố, chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc của NHNN.

PV: Thưa TS. Lê Xuân Nghĩa, ngày 26/9/2008, Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm, đồng thời tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 3,6%/năm lên 5%/năm và cho phép các NHTM được cầm cố chiết khấu và chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc trên thị trường thứ cấp. Ông có thể cho biết những phân tích của ông về những quyết định này?

TS. Lê Xuân Nghĩa: Thú thực, khi đọc cùng một lúc 3 quyết định trên, tôi đã rất mừng, tới mức định bốc máy gọi điện chúc mừng Thống đốc Nguyễn Văn Giàu như tôi vẫn thường làm. Tôi đánh giá rất cao các quyết định này không chỉ bởi tính thời điểm của nó, mà cả ở tầm nhìn trung hạn. Trước hết, việc giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm là một tín hiệu của NHNN tiếp tục mục tiêu chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Nó cũng cho thấy, mặc dù tốc độ gia tăng lạm phát trong tháng Chín giảm mạnh, nhưng chưa thật vững chắc do giá lương thực, thực phẩm giảm nhiều, trong khi chỉ số giá phi lương thực, thực phẩm (core Inflation) vẫn còn khá cao. Hơn nữa, việc giữ nguyên lãi suất cơ bản trong khi tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu tín phiếu bắt buộc có liên quan mật thiết với nhau. Giữ lãi suất cơ bản tức là giữ mức lãi suất cho vay tối đa. Điều này giúp các NHTM có điều kiện cấu trúc lại lãi suất theo kỳ hạn và rủi ro như nó vốn thế. Tôi lấy ví dụ: các ngân hàng thương mại có thể cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh chứng khoán (trong giới hạn được phép) với thang lãi suất cao hơn (20 - 21%/năm); trong khi có thể điều chỉnh cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở thang lãi suất thấp hơn (16 - 17%/năm).

Rõ ràng là cả 3 quyết định nói trên đã mang lại lợi ích kép cho doanh nghiệp, ngân hàng và mục tiêu chống lạm phát. Nó là một bước đi thận trọng và cần thiết vào thời điểm hiện nay.

PV: Ông bình luận như thế nào về việc công bố quyết định này trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ở Mỹ và có nguy cơ lan ra toàn cầu?

TS. Lê Xuân Nghĩa: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ là rất nghiêm trọng; và, do nó bắt nguồn từ thị trường nhà đất, nên hậu quả sẽ còn kéo dài hơn là chúng ta tưởng. Nhật Bản năm 1988 là một ví dụ. Với những nỗ lực rất lớn của Chính phủ Mỹ và các nước phát triển (đã khôi phục thanh khoản và xử lý nợ xấu), chúng ta có thể hy vọng sẽ ổn định được hệ thống tài chính trong vòng một năm, nhưng ổn định được thị trường nhà đất và nền kinh tế thì còn phải mất nhiều thời gian hơn thế.

Cần lưu ý rằng, cuộc khủng hoảng tài chính lần này còn có tên gọi khác, đó là “Sự suy kiệt tín dụng toàn cầu”. Đây chính là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, thông qua các kênh như: tín dụng, chuyển tiền, đầu tư trực tiếp và xuất khẩu. Vì vậy, đối với hệ thống tài chính Việt Nam (kể cả ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng) trước mắt, phải củng cố vững chắc thanh khoản và trong trung hạn phải xử lý tốt nợ xấu có thể phát sinh nhiều hơn. Hiện tại, thanh khoản của các NHTM Việt Nam đang khá tốt, bằng chứng là các giao dịch Repo, chiết khấu hỗ trợ thanh khoản tại NHTW giảm mạnh (ở mức bình thường) so với các tháng trước; lãi suất thị trường liên ngân hàng khá thấp, thậm chí vay qua đêm, kỳ hạn ngắn dưới một tuần chỉ xoay quanh lãi suất nghiệp vụ thị trường mở; các định mức thanh khoản được giám sát chặt chẽ...

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, thanh khoản của ngân hàng cần được củng cố vững chắc hơn, và 3 quyết định nói trên của NHNN Việt Nam cũng nhằm đạt được mục tiêu quan trọng này. Ngoài ra, việc tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc cũng có tác dụng cải thiện năng lực tài chính và tăng khả năng phòng ngừa rủi ro của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ.

PV: Theo ông, có thể dự đoán thế nào về xu thế của lãi suất cho vay của các ngân hàng và tác động của nó đến sản xuất kinh doanh, sau khi có các quyết định này?

TS. Lê Xuân Nghĩa: Ngay sau khi NHNN công bố các quyết định trên, một số NHTM đã có kế hoạch cắt giảm lãi suất. Đi đầu là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã điều chỉnh lãi suất cho vay doanh nghiệp xuống còn 18,2%/năm; cho vay các dự án chương trình mục tiêu: 17,5%/năm. Cùng với đà suy giảm tốc độ gia tăng của lạm phát và thời cơ để tái cấu trúc lại lãi suất theo rủi ro (như đã nói trên), khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay đối với khu vực doanh nghiệp có thể còn sâu hơn trong nhiều tháng tới. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất khẩu, thì việc tiếp cận vốn ngân hàng để duy trì các hợp đồng thương mại thậm chí còn quan trọng hơn lãi suất. Phân tích bộ số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê 2006, cập nhật các các số liệu mới về chi phí và lãi suất ngân hàng, các chuyên gia ước lượng tỷ trọng chi phí lãi vay ngân hàng trên tổng chi phí của doanh nghiệp có khả năng thương mại quốc tế (tradables) chỉ từ 1,6 - 2,0%; trong khi tỷ lệ này ở các doanh nghiệp không có khả năng thương mại quốc tế (non - tradables) là 6 - 7%; và tỷ lệ này ở mức khá cao ở các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu thụ nội địa có tỷ trọng vốn vay ngân hàng trên vốn tự có cao trên 2 lần. Điều này cho thấy, tác động của lãi suất ngân hàng trên tổng chi phí của các nhóm doanh nghiệp là rất khác nhau, tác động lớn chủ yếu ở các doanh nghiệp sản xuất cho thị trường nội địa và có tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn thấp. Nói cách khác, đối với hoạt động ngân hàng, việc mở rộng cho vay đối với một số nhóm doanh nghiệp là quan trọng, trong khi đối với một số nhóm khác, cần đặt ra sức ép để quy hoạch lại quy mô kinh doanh và cấu trúc lại vốn chủ sở hữu theo nguyên tắc thị trường nhằm tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Có thể thấy rằng, các quyết định nói trên là bước đi quan trọng, nhằm giảm bớt những khó khăn tài chính cho doanh nghiệp, trong điều kiện cần thiết phải duy trì các biện pháp chống lạm phát. Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, vì thế sẽ phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực của Chính phủ và doanh nghiệp, trong việc kiểm soát tốt hơn hiệu quả sử dụng các nguồn lực, nhằm ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô.

PV: Xin chân thành cảm ơn TS. Lê Xuân Nghĩa!

Minh Khuê/TBNH thực hiện.

(Nguồn: Website NHNN)

Ghi chú quan trọng:
Thông tin được cung cấp trên trang web của Công ty Quản lý Quỹ Manulife Việt Nam (MVFM) tại Chuyên mục này chỉ để tham khảo. Những thông tin này không phải và không được hiểu như là một lời chào bán hay nài nỉ chào mua hoặc mời đăng ký tham gia bất kỳ một khoản đầu tư nào. MVFM xây dựng nội dung trang web này dựa trên thông tin từ nhiều nguồn mà MVFM tin rằng đáng tin cậy nhưng vẫn chưa được kiểm chứng một cách độc lập; MVFM không đảm bảo, đại diện hay bảo lãnh và không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý đối với sự chính xác hay đầy đủ của thông tin này. Ý kiến được diễn đạt ở đây chỉ là quan điểm của người viết và có thể thay đổi mà không cần phải thông báo trước.
Khởi lập ...

Vào tháng 6 năm 2005, Manulife vinh dự được cấp giấy phép thành lập Công ty TNHH Quản lý Quỹ Manulife Việt Nam (MVFM)

Thăm dò ý kiến

Vấn đề nào sau đây mà Quý vị quan tâm nhất và mong muốn được nghe trình bày tại Đại hội Nhà đầu tư thường niên của Quỹ




Bình chọn 
Số lượt truy cập:  111110
Số người trực tuyến: 69